Luận Giải Sao Kình Dương – Đà La

Luận giải sao Kình Dương - Đà La

Bàn luận về sao Kình Dương – Đà La

Kình Dương, Đà La trong khoa Tử Vi là hai sát tinh đi đôi như Linh Hỏa, cùng với Linh Hỏa thành bộ “tứ sát”. Nhưng Kình Đà có nhiều khác biệt với Hỏa Linh. Hỏa Linh mang đến phiền nhiễu, Kình Đà đem lại tổn thất.

Khi hội tụ đủ bộ tứ sát lại đoán khác và gặp Địa Không Địa Kiếp lại đoán khác. Kình Dương hóa khí là “Hình”, Đà La hoá khí là “Kỵ”. Hình từ Kình Dương biểu hiện sự phá hoại lực, có thể gây ra thất bại, có thể gây ra thị phi sau khi đã thành công. Kỵ từ Đà La biểu hiện ngăn trở trì trệ, có thể tạo nên những khó khăn bất ngờ, có thể khiến cho đương sự vào mê hồn trận. Phá hoại lực của Kình Dương thường rõ ràng dễ nhận thấy. Ngăn trở trì trệ của Đà La thường ngấm ngầm quỷ quyệt.

Kình Dương phá hãm ví như một chân tiểu nhân. Đà La phá hãm ví như ngụy quân tử. Bởi vậy khi Kình Dương hội Hỏa Tinh gây thành sức mạnh phản kháng như cách “Mã đầu đới tiễn” nơi cung Ngọ, vượt qua những khó khăn gian tân mà đến với thành công.

Nhưng nếu Đà La hội với Hỏa Tinh lại thành ra thứ trở ngại không vượt được rồi thất bại. Hung họa đến từ Kình Đà xem như thế còn tùy thuộc vị trí chúng đứng và hội tụ với sao nào để mà tìm ra đầy đủ ý nghĩa.

Kình Dương là một tình trạng phát triển thái quá. Còn mang tên gọi khác là “dương nhẫn” đầu mũi gươm xung kích tiên phong. Kình Dương vào Mệnh làm việc xông xáo, không do dự, đã quyết thì làm. Sở đoản của Kình Dương là khó tiếp thụ ý kiến người khác, hiếu thắng, cao ngạo, ăn nói sắc nhọn dễ gây thù oán. Khuynh hướng cực đoan, tình cảm yêu với hận rõ ràng ân với oán phân minh.

Đà La ngược lại, làm việc âm thầm, gan góc, tiến chậm nhưng không ngừng tiến, không vội vã nhưng không phải không có phản ứng mau. Thường nuốt để bụng và cực kỳ cố chấp, khả năng nhẫn nại cao.

Đến đây ta hãy bàn về vị trí của sao Kình Dương. Kình Dương bao giờ cũng đứng trước Lộc Tồn gọi bằng tiền Kình hậu Đà. Không thể đặt ngược vị trí của nó thành tiền Đà hậu Kình

Như trên đã nói Dương Nhẫn là một tình trạng phát triển cao độ. Giáp Lộc đóng Dần thì sự phát triển cao độ của Giáp Mộc phải vào Mộc cung là Mão. Bính Hỏa, Lộc tại Tỵ thì tình trạng phát triển mạnh cũng phải ở nơi cung Hỏa, Dương Nhẫn tất phải đóng Ngọ.

Ất Mộc, Lộc tại Mão thì Dương Nhẫn Thìn là Thủy Mộc khố. Đinh Kỷ, Lộc ở Ngọ thì Dương Nhẫn đóng Mùi Hỏa khố. Tân Kim, Lộc tại Dậu thì Dương Nhẫn đóng Tuất Kim khố…
Sách Tinh Bình Hội Hải viết “Giáp Lộc đáo Dần, Mão vi Dương Nhẫn, Ất Lộc đáo Mão, Thìn vi Dương Nhẫn…”. Lộc tiền nhất vi vi “Nhẫn” vi vạn vật chi lý giai ố cực thịnh. Lộc quá Nhẫn sinh công thành đương thoái, vật thoái tắc quá việt kỳ nhân (Nghĩa là trước Lộc Tồn một cung là Dương Nhẫn bởi lẽ cái lý của vạn vật không thuận được với tình trạng thái quá, Lộc lên cực điểm thành hoại, công thành rồi hay từ tồn lại, cứ tiếp tục quá khích tất sẽ bại).

Ở số Tử Bình không có sao Đà La, nhưng Dương Nhẫn rất quan trọng. Tử Vi căn cứ vào lý luận trên, không cách gì mà đổi ra tiền Đà hậu Kình, đổi như vậy lý Ngũ hành mất đất đứng.

Lấy trường hợp tuổi Bính Mậu có Đồng Âm tọa thủ tại Mệnh, Đồng Âm ấy được Kình Dương mới hay, nếu như lại sao Đà La nằm chềnh ềnh ở đây thật khôi hài. Câu phú Thiên Đồng Thái Âm cư Ngọ vị, Bính Mậu trấn ngự biên cương. Phải tiền Kình tuổi Bính Mậu mới có Dương Nhẫn tại Ngọ được.

Kình Dương đắc địa thủ Mệnh thân tài chắc chắn, xương lớn nhưng không lộ cốt. Kình Dương hãm thân tài gầy guộc xương lộ da như cam sành. Kình Dương hợp với các cung Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) vì Mộ cung có khả năng thuần hóa được tính phát triển quá mức của sao này. Kình Dương ở Mộ tuy đắc địa nhưng vẫn phải có cuộc đời phiêu lưu bôn ba ly hương và xa cách người thân.

Kình Dương đóng vào Tứ bại địa (Tí Ngọ Mão Dậu) nếu không kết hợp thành một cách riêng biệt như hội hợp với Đồng Âm, tính chất hình khắc nặng hơn, đáng ngại nhất là Dậu rồi đến Mão.

Riêng với nữ Mệnh có Kình Dương dù miếu địa cũng phải xem là “mỹ trung bất túc” vì nữ Mệnh đều an định êm đềm trong đời là chủ yếu. Kình Dương gặp Nhật Nguyệt trai khắc vợ, gái khắc chồng. Kình Dương gặp Liêm, Hỏa ắt có ám tật hoặc tứ chi bị thương.

Sách vở Trung Quốc có mấy câu đáng để ta suy ngẩm: Thiên Tướng hãm phùng Dương Nhẫn, nữ nhân thi lụy (Nam mạng Thiên Tướng đóng hãm địa gặp sao Kình Dương thường bị đàn bà làm khổ vì tình). Hồng Loan Dương Nhẫn vì tình đoạn trường nghĩa là số gái Hồng Loan gặp Kình Dương dễ đi vào cảnh buồn đoạn trường vì tình.

Đà La thủ Mệnh biểu hiện qua đôi mắt lớn, lồi, đắc địa ánh mắt tỏ tường, hãm ánh mắt mờ đục và răng dễ bị hư. Đà La đắc địa ở các cung Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) làm việc giỏi, dám làm và thành công.

Các cách cục với sao Kình Dương – Đà La trong Tử Vi

Đà La hãm nơi Dần Thân Tỵ Hợi, tính giảo quyệt ưa phá hoại, cô đơn. Đà đắc địa tứ Mộ can đảm thâm trầm, lắm mưu mô thủ đoạn.

Đà La gặp Riêu Cái Tuế ở Mệnh có tật nói ngọng, nói lắp. Đà hãm gặp Linh Hỏa Không Kiếp Kỵ Hình, đau yếu tật nguyền dễ lâm vào cùng khốn.

Đà La Kình Dương hội Thất Sát thường gặp tai hoạ lớn. Đà gặp Thiên Hình ở vận hạn đưa đến kiện tụng, ẩu đả. Đà gặp Hỏa ở vận hạn: đau ốm. Đà gặp Thiên Mã tại Mệnh rất khôn ngoan nhưng cũng rất mưu mô.

Đà La Sửu tốt nhất, thứ đến Mùi, Thìn vượng địa, Tuất bình hòa. Đà La hội với Tham Lang dễ biến thành con người ham mê chơi bời rượu chè.

Đà La gặp Hỏa Tinh hay bị thương tật hoặc bệnh lâu không khỏi. Đà La Mệnh, Kình Dương Thân thì hình khắc dữ dội hơn nữa.

Đà La vào Tật Ách có bệnh phổi, xuất huyết ở phổi, mặt có sẹo, tê thấp, bệnh ngứa làm lột da. Kình Đà vào cung Tật Ách số nữ phải để phòng bệnh bướu tử cung đưa đến giải phẩu.

Kình với Đà kể về mặt hung họa tác hại ngang nhau. Nhưng với Kình thì rõ rệt, mọi người có thể biết. Còn với Đà La thì ngấm ngầm ít ai hay. Đó là điểm khác biệt giữa Kình với Đà cũng như “Hỏa minh Linh ám” vậy.

Đà La đứng bên Tham Lang khi Tham Lang ở cách ‘phiếm thủy đào hoa” tức Tham Lang đóng Hợi có thể đưa đến tình trạng “mê hoa luyến tửu dĩ vong nhân” (chết vì trác táng do nghèo hay bệnh).

Đà La đứng với Tham Lang ở Dần cách gọi bằng “phong lưu thái trượng” lại là con người hào hoa phong nhã dễ bị lừa gạt bởi đam mê, không trác táng. Cách “phiếm thủy đào hoa” với “phong lưu thái trượng” khác nhau như vậy.

Kình Đà có một cách nhất định gây họa hại, ấy là khi Lộc Tồn đứng với Hóa Kỵ, đương nhiên Kình Đà hiệp Mệnh, cổ nhân gọi bằng cách Kình Đà hiệp Kỵ. Cách này đưa đến cái họa bần bệnh giao gia (vì bệnh tật mà nghèo túng, đã nghèo túng còn bệnh tật). Sao Lộc Tồn đứng với Hóa Kỵ như thế thật xấu.

Kình Đà cũng không hợp với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, nhưng Kình Đà mà hiệp sao Thiên Tướng hãm thì họa hại mạnh hơn hết. Cách Tham Hỏa là cách tốt nhưng có Đà Kình vào hỏng ngay.

Cự Môn Kình Dương không hại lắm, hễ có thêm Hỏa Tinh vào thì phiền. Nhưng Kình đắc địa đứng với Hỏa lại hay.

Ngoài ra không phải cứ thấy Kình Đà xuất hiện là tuyệt đối xấu. Kình Đà hung hiểm nhưng mặt khác nó cũng tạo nên điều cát lợi mạnh mẽ không kém.

Đà La đứng với Thái Âm tại Mệnh, số nữ tính dục cực vượng thịnh đến mức bất kể Thái Âm đắc địa hay hãm địa. Trường hợp hãm thì loạn kèm theo tiện, trường hợp đắc sang trọng phong lưu.

Có một thuyết cho rằng Kình Dương tượng trưng bộ sinh thực khí của đàn ông và Đà La tượng trưng bộ sinh thực khí của đàn bà. Từ thuyết này mà Thái Âm Đà La mới loạn dâm, ý chí sức mạnh tình dục lên đến cực điểm. Cổ nhân không nhắc đến sự kiện Kình Dương gặp sao nào thì sức mạnh tình dục vượng, dĩ nhiên không phải là Thái Dương rồi.

Qua kinh nghiệm cho thấy Kình Đà vào Mệnh cung thường là con người thông minh. Kình Đà đi cùng Xương Khúc khiến cho cái chất văn của Xương Khúc tăng lên gấp bội. Như vậy thì Kình Đà liên quan tới sức mạnh tình dục là đúng.

Qua phân tâm học của Frued thì sức mạnh tình dục (pulsion sexuelle) đưa lên cao thành văn chương, đẩy xuống thấp thành trác táng, truy hoan. Đà La đứng cùng Thiên Hình Đào Hoa vì tình mà mang họa cũng là bởi sự liên quan đến tình dục nói trên.

Luận bàn thêm về cặp sao Kình – Đà

Kình Đà còn một cách cục khác mà sách Tử Vi Đẩu Số không nói riêng ra là: Kình Dương độc thủ và Đà La độc thủ. Mệnh vô chính diệu có Đà Kình tọa thủ là Kình Đà độc thủ.
Kình Dương độc thủ có thể ở Tí Ngọ Mão Dậu có thể ở Thìn Tuất Sửu Mùi. Kình Dương độc thủ chỉ tốt khi nó đứng ở Thìn Tuất Sửu Mùi và Sửu Mùi đẹp hơn Thìn Tuất, còn Tí Ngọ Mão Dậu kể là xấu, gây hung họa.

Kình Dương độc thủ vào số nam hợp cách hơn số nữ. Đà La độc thủ vào số nữ hợp cách hơn số nam. Tuy nhiên số nữ mà Kình Đà độc thủ theo quan niệm của người xưa đều không coi như một cách cục tốt đẹp. Thời bây giờ thân phận nữ đã khác đi nhiều thì Đà La độc thủ được kể như cách cục hay nhưng không xem là tốt.

Tại sao hay mà không tốt? Hay chỉ khả năng giỏi dang, thành công khi toan tính việc gì. Nhưng không tốt vì cuộc sống bôn ba thăng trầm gay go quyết liệt, thiếu an định êm đềm. Kình Dương độc thủ với nam mạng hễ đã thành công lớn vượt thiên hạ, nhưng lúc chưa đạt vất vả và gian lao cũng dữ dội. Kình Dương độc thủ vào binh nghiệp, kinh doanh lớn, chính trị để sáng tạo sự nghiệp.

Đà La độc thủ với nam mạng đắc địa sự thành công thường không qua chính đạo mà hễ đã bại thì xuống đến tận cùng, cơ sự nghiệp mất, thanh danh cũng tiêu luôn. Trong khi Kình Dương độc thủ có bại vẫn giữ được danh thơm.

Số nữ Đà La độc thủ đắc địa có thể thành công to, nhưng tình duyên dang dở, bất mãn và luôn luôn là con người cô đơn vì quá giảo quyệt nên bị xa lánh. Đà La độc thủ chỉ tốt khi đứng cung Thìn Tuất Sửu Mùi, độc thủ Dần Thân Tỵ Hợi kể như xấu.

Một số câu phú Tử Vi về sao Kình Dương – Đà La

Kình Dương cư Tí Ngọ Mão Dậu hãm địa, tác họa hưng ương hình khắc thậm

(Kình Dương đóng Tí Ngọ Mão Dậu gây ra tai họa hình khắc)

Kình Dương nhập miếu gia cát, phú quí thanh dương

(Kình Dương miếu địa gặp cát tinh, giàu sang dương thanh)

Kình Dương Hỏa Tinh hãm vi hạ cách

(Kình Dương đứng cùng Hỏa Tinh ở hãm địa là hạ cách)

Kình Dương thủ Mệnh, Thất Sát Phá Quân xung chủ hình khắc

Dương Đà Hỏa Linh phùng cát phát, hung tắc kị

(Dương Đà Hỏa Linh với cát tinh phấn phát thêm hung tinh rất xấu)

Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, tuế điệt Dương Đà Canh Mệnh hung

(Kình Dương đóng Thiên Di, gặp hạn lưu Kình Đà người tuổi Canh nguy biến)

Dương Đà hiệp Kỵ vi bại cục

(Kình Dương Đà La hiệp Hóa Kỵ là cách thất bại)

Kình Dương trùng phùng lưu niên, Tây Thi vãn Mệnh

(Kình Dương mệnh gặp lưu niên hạn Kình Dương Tây Thi uổng mạng)

Dương cư Đoài Chấn, lục Mậu lục Giáp phúc nan toàn

(Kình Dương xung chiếu Mệnh tư Dậu hoặc Mão, người tuổi Mậu Giáp cuộc đời lắm tai ương)

Kình Dương gặp Âm Đồng (Tí hay Ngọ) thêm Phượng Các, Giải Thần uy danh lừng lẫy.

Dương Đà Quan Phủ ư hãm địa loạn thuyết chi nhân

(Mệnh có Kình Đà hãm địa đứng bên Quan Phủ ưa nói bậy, nói quá kỳ thực, nói lung tung)

Dương Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương

(Mệnh Kình Dương Linh Tinh, vận lưu niên gặp Bạch Hổ tai họa)

Thân nội Tuế phùng Đà Kỵ mạc đạo phồn hoa

(Cung Thân có Thái Tuế đi với Đà La Hóa Kỵ là người thô lỗ quê mùa)

Tật Ách kiêu Đà Nhẫn phản mục tật sầu

(Cung Tật Ách bị Kình Đà dễ đau mắt)

Đà La lâm phụ vi, bất tu Quả Tú diệc tăng bi

(Phu cung xuất hiện sao Đà hãm không cần Quả Tú cũng thành cô đơn)

Mệnh Dương Đà gia Kiếp thọ giảm

(Mệnh Kình Đà thêm Địa Kiếp không thọ)

Kình Hư Tuế Khách gia lâm, mãn thế đa phùng tang sự

(Mệnh Kình Dương, Thái Tuế, Điếu Khách hội tụ cuộc đời lắm tang tóc, buồn rầu)

Luận Mệnh tất suy tính thiện ác

Cự Phá Kình Dương tính tất cương

(Cự Môn Kình Dương, Phá Quân Kình Dương tính tình cứng rắn)

Dương Nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt bệnh tật triền miên

(Kình Dương gặp Nhật Nguyệt lâm bệnh trong người hoặc có bệnh lưu cứu không khỏi)

Riêu Đà Kỵ kế giao họa vô đơn chí

(Mệnh hội tụ Diêu, Đà, Kỵ lận đận tai ương hoài)

Đà Kỵ Nhẫn thủ ư Phu vị

Hại chồng con chước quỉ ghê thay

Dương Hình Riêu Sát cung Phu

Lại gia Linh Hỏa vợ lo giết chồng

Dương Đà bệnh ấy phòng mòn

Tuế Đà vạ miệng xuất ngôn chiêu hiềm

Đà ngộ Kỵ chẳng lành con mắt

Kỵ phùng Dương mắt hẳn thong manh

Đà Không lâm thủ Điền Tài

Luận rằng số ấy sinh lai nghèo hèn

Dương Nhẫn phùng Tuyệt Linh chốn hãm

Công cù lao bú mớm như không

(Cung Tử Tức có Tuyệt, Linh và Nhẫn, khó nuôi con, hoặc con cái có cũng bằng không)

Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà

Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng

Tứ hung ngộ quí nơi Thân Dậu

Đến Phật Đài cầu đảo mới xong

(Vận đến Dậu Kình Đà Hỏa Linh gặp Tử Vi, Thiên Phủ phải làm việc thiện để mà tránh tai họa)

Đào Hồng mặt mũi xinh tươi

Kỵ, Hình, Đà, Nhẫn là người tật thương

Thái Dương đóng chốn thủy cung

Gặp Kình hay Kỵ yểu vong hoặc mù

(Thái Dương ở Hợi Tí Kỵ Hình. Theo kinh nghiệm thì chỉ bị tật ở mắt, mắt kéo màng, chứ không phải yểu vong với mù)

Hỏa Dương Tham Tướng Tị cung

Hoặc là tứ mộ nổi danh tướng tài

Sát Phá Liêm Tham lâm vào

Kình Đà Kỵ ấy trách nào bạo hung

Ngọ cung tam Hóa hợp Kình

Người sinh Bính Mậu biên đình nổi danh

Dương Linh thủ Mệnh mấy ai

Lại gặp Bạch Hổ họa tai đao hình

Kỵ Đà Thái Tuế họp bài

Cảnh đời nào được mấy người thong dong

Tuế Đà Cự Kỵ vận nghèo

Một thân xuống thác lên đèo chẳng yên

Kiếp Không Hình Kỵ Đà Dương

Gian nan bệnh tật mọi đường khảm kha.

Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung

Cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày

Hình Kình cư Ngọ đồng gia

Sát Kiếp lại chiếu ắt là ngục trung

Thìn Tuất Thất Sát xem qua

Hình Kình hội ngộ ắt là đảo điên

Nguyệt hãm Đà Hổ Tuế xung

Hại thay điềm mẹ thoát vòng trần gian

Dương Đà Thất Sát phải hay/ Chiếu thủ Thân Mệnh tháng ngày khổ đau

(Tâm tư không mấy vui, bi quan)

Mấy người đông tẩu tây trì

Phá Quân Thiên Việt hợp về Kình Dương

Thất Sát hãm thật đáng kinh

Vận niên gặp phải lưu Kình sợ thay

Kỵ Liêm Phá Vũ xấu xa

Giáp cùng Không Kiếp Kình Đà sao nên

Hóa Kỵ thi rớt lắm khi

Dương phùng Kiếp Sát học gì cho xong

Đà Tham tửu sắc la đà

Tuế Đà miệng lưỡi ắt là sai ngoa

(Đà La Tham Lang vào Thê ăn chơi. Tuế Đà vào Thê cung vợ chua ngoa)

Dương Đà Kỵ Nhật Nguyệt xung

Chim cưu thói ấy vợ chồng chán nhau

(Dương Đà Kỵ vào cung Phối vợ chồng khó ăn ở trọn vẹn)

Kình Dương mà gặp Thiên Hư/ Hữu sinh vô dưỡng âu lo một đời

(Kình Dương Thiên Hư ở cung Tử Tức)

Kình Đà Không Kiếp Khốc Hư/

Sinh con điếc lác ngẩn ngơ thêm buồn

Đà Không nghèo khó tai ương

Lưỡng hao tài tán bốn phương thêm phiền

(Đà La Thiên Không ở cung Tài Bạch)

Đà La độc thủ tốt sao

Phúc cung chánh diệu đệ bào tiệm hưng

(Đà La độc thủ ở cung Huynh Đệ không bị các hung sát tinh khác)

Đà La Không Kiếp án ngăn

Đẹp gì trong họ ắt rằng suy hao

Hỏa Linh hình khắc cô đơn

Kình Đà cha mẹ cùng con bất đồng

(Kình Đà đóng vào cung Phụ Mẫu mà là Kình Đà hãm địa)

Kình Dương Tham Lang đồng cung tại Ngọ thủ Mệnh uy chấn biên cương

(Kình Tham đóng Ngọ có quyền có thế)

Kình Dương Nhật Nguyệt đồng cung nam khắc, thê nhi nữ khắc phu

(Kình Dương đứng cùng Thái Âm Thái Dương, trai khắc vợ, gái khắc chồng)

Kình Dương Mão Dậu thủ Mệnh yểu triết hình thương

(Mệnh đóng Dậu Mão có Kình Dương thủ hay bị tai nạn)

Kình Dương thủ Mệnh, Kỵ Kiếp Không xung phá ly tổ khắc thân

(Kình Dương thủ Mệnh nơi đất hãm gặp Kỵ Hỏa Linh xung phá lưu lạc cô đơn)

Kình Đà Linh Hỏa phùng cát phát tài, hung tắc kị

(Kình Đà Linh Hỏa đắc địa, gặp sao tốt thì phát bị hung lại kém hay)

Kình Dương trùng phùng lưu niên hung

(Kình Dương ở đại hạn, lưu niên gặp Kình Dương là hung)

Đà La hội Nhật Nguyệt Kỵ tinh nam nữ đa khắc, hữu mục tật

(Đà La đứng với Hóa Kỵ và Nhật Nguyệt khắc vợ khắc chồng, bị tật nơi mắt)

Đà La hãm hội Cự Môn Thất Sát hình khắc lục thân

(Đà La đóng hãm cung gặp Cự Môn Thất Sát khó gần người thân)

---Bài viết tham khảo thêm---

---Thầy Hưng Tử Vi---