Lập Thành Lá Số Tử Vi

Lập thành Lá số Tử Vi

Định cung

Trên một tờ giấy, chia làm 12 ô như dưới đây:

Mỗi ô là 1 cung. Bắt đầu từ một là cung thứ 1, gọi cung Tý, đếm theo chiều thuận (thuận chiều kim đồng hồ) lần lượt Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Mỗi chữ trên đây là một cung: 12 chữ này gọi là Thập Nhị Địa Chi.

Vị trí và tên của mỗi cung ở trên bản đồ không bao giờ thay đổi. Khoảng trống ở giữa bàn đồ là cung Thiên Bàn, chỗ để ghi ngày, tháng, ngày và giờ sinh.

Tìm bản mệnh

Khi lập thành một lá số, nên biết Bản Mệnh thuộc một trong Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)

Người muốn xem số phải nhớ cả hàng Can của tuổi mình. Tất cả có Thập Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý

Thí dụ: Nói tuổi Tý là chưa đủ, cần phải biết rõ là Tuổi Giáp Tý hay Bính Tý,..

Khi đã rõ tuổi đủ cả 2 hàng Can, Chi muốn tìm xem Bản Mệnh thuộc Kim, thuộc Mộc, thuộc Thủy, thuộc Hỏa, thuộc Thổ, hãy coi bảng dưới đây:

Phân âm nam, dưỡng nữ, dương nam, âm nữ

Nam hay nữ đều có thể hoặc âm nam, dương nam hoặc âm nữ dương nữ, tùy theo hàng Can, Chi của tuổi. Như vậy, đã biết tuổi, lại cần phải phân định âm dương cho rõ rệt. Có 2 cách:

Phân âm dương theo hàng Can

Thí dụ: con trai tuổi Giáp Tý, gọi là dương nam; tuổi Đinh Mão gọi là âm nam.

Con gái tuổi Giáp Tý gọi là dương nữ, tuổi Đinh Mão gọi là âm nữ.

Phân âm dương theo hàng Chi

Thí dụ: con trai tuổi Mậu Thìn, gọi là dương nam; tuổi Kỷ Tỵ gọi là âm nam.

Con gái tuổi Mậu Thìn gọi là dương nữ, tuổi Kỷ Tỵ gọi là âm nữ.

Định giờ

Lập thành một lá số, điều quan trọng nhất là phải định đúng giờ sinh, đổi giờ đồng hồ ra giờ hàng Chi.

Một ngày có 24 giờ đồng hồ. Hai giờ đồng hồ bằng một giờ hàng Chi.

Muốn định đúng giờ sinh, coi bảng dưới đây:

An Mệnh

Bắt đầu từ cung Dần là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, rồi từ cung ấy, gọi là giờ Tý, đếm theo chiều ngịch đến giờ Sinh, ngừng lại ở cung nào, an Mệnh ở cung đó.

Sau khi đã an Mệnh, bắt đầu theo chiều thuận, thứ tự an các cung: Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Lộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê (Phối) Huynh Đệ.

An Thân

Bắt đầu từ cung Dần, là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, rồi từ cung ấy gọi là giờ Tý, đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào, an Thân ở cung đó.

Thân chỉ có thể an vào Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phối

Nếu khi an Thân, thấy Thân là vào những cung khác 5 cung kể trên như vậy là đã nhầm lẫn, cần phải soát lại ngay.

Thân an vào Phúc Đức thì gọi là Thân cư Phúc Đức, an vào Quan Lộc, thì gọi là Thân cư Quan Lộc,…

Lập Cục

Trước khi an Tử Vi tinh hệ, cần phải căn cứ vào hàng Can của tuổi và cung an Mệnh để lập Cục.

Coi những bảng dưới đây:

---Bài viết tham khảo thêm---

---Thầy Hưng Tử Vi---